Theo Đông y, tam thất vị ngọt hơi đắng, tính ôn, có chức năng hóa ứ, cầm máu, tiêu sưng, giảm đau. Trong thời gian dùng tam thất để cầm máu, bệnh nhân không được sử dụng gừng, tỏi và các dè bỉu phẩm có gừng, tỏi.
Tam thất là một vị thuốc quý, khác lạ là đối với thiếu phụ ở tuổi sinh đẻ. Tam thất có 2 loại là Tam thất bắc (sâm tam thất, điền thất nhân sâm, kim bất hoán, Panax pseudoginseng) và Tam thất nam (tam thất gừng, khương tam thất, ngải năm ông, Stahlianthus thorelii).
Tam thất bắc là có hàng rất gần với cây nhân sâm và có chức năng cầm máu (khử ứ trị huyết) và rất khả quan sử dụng cho thanh nữ sau khi sinh (tẩy huyết cũ sinh huyết mới).
![]() |
Tam thất có tính năng tẩm bổ: tăng lực, tăng sức đề kháng, vấn đề hòa miễn dịch.
- Kích thích tâm thần, chống trầm uất.
- Bảo vệ tim Đương Đầu những tác nhân gây loạn nhịp. Chất noto ginsenosid trong tam thất có tác dụng giãn mạch, ngăn phòng ngừa xơ vữa động mạch, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu ôxy.
- Cầm máu, tiêu máu, tiêu sưng: Chữa các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng), tiêu máu ứ do phẫu thuật, va dập gây bầm tím ứng dụng. Bột tam thất rắc giúp cầm máu với tốc độ cao các vết thương.
- Giảm sinh khối u, do đó khiến cho giảm vận tốc phát hành u, hạn chế giễu sự di căn của tế bào ung thư, kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân ung thư.
Cách dùng:
- Dùng sống dưới dạng bột, dạng lát cắt ngậm, nhai, hoặc mài với nước uống
- Sử dụng chín trong những trường thích hợp thiếu máu, suy nhược, đàn bà sau khi đẻ.
Đối với những người phổ biến và dùng để chữa u nếu cơ địa hoàn toàn chung không quá nóng và không quá lạnh thì có thể sử dụng tam bất thường xuyên.
Đối với những người quá nóng có chức năng bất lợi là giả dụ uống trong thời gian dài có thể gây ra bức xúc mẫn cảm gây ngứa, mụn nhọt hoặc dị ứng... trong trường này dùng tam thất tùy theo cơ địa.
Để ý: Những thanh nữ đang có mang và những người đang chảy máu không nên sử dụng tam thất. Đặc biệt khi bị đi tả, không nên sử sử dụng vì có nguy cơ gây tử trận.
Theo các chuyên gia đông y, trong vấn đề trị căn bệnh ung thư, ngoài những thuốc đặc trị, có thể dùng thêm tam thất. Chung, người bận bịu bệnh ung thư vẫn phải được điều trị bằng xạ trị hay hóa trị... Vấn đề trị liên minh với tam thất sẽ tăng tính mẫn cảm của mô ung thư, từ đó có thể sử dụng ít hơn thuốc đặc trị, tương tự sẽ ít gây độc hại hơn cho người bệnh. Nhưng thể hiện sự quan trọng rằng tam thất cũng chẳng thể thay thế hoàn toàn thuốc đặc trị ung thư.
Đương nhiên, để đạt được kết quả tốt nhất trong điều trị bệnh ung thư, bệnh nhân nên tìm đến các bệnh viện để được giải đáp và nhân tố trị kịp thời. Chú ý, người bệnh không tự sử dụng khi chưa có sự trả lời của các y, bác sĩ.
Vài bài thuốc trong khoảng tam thất:
- Giảm đau: Dịch chiết của rễ, thân lá, tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.
Sau đây là vài bài thuốc có tam thất:
Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh): Ngày uống 5 g bột tam thất, uống 1 lần, chiêu với cháo loãng hoặc nước ấm.
- Phòng và chữa đau thắt ngực: Ngày uống 3-6 g bột tam thất (1 lần), chiêu với nước ấm.
- Chữa thấp tim: Ngày uống 3 g bột tam thất, chia 3 lần (cách thức nhau 6-8 giờ), chiêu với nước ấm. Dùng trong 30 ngày.
- Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả ứ máu trong mắt): Ngày uống 3 lần bột tam thất, mỗi lần từ 2-3 g, bí quyết nhau 6-8 giờ, chiêu với nước ấm.
- Chữa đau thắt lưng: Bột tam thất và bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều, ngày uống 4 g, chia 2 lần (phương pháp nhau 12 giờ), chiêu với nước ấm. Thuốc cũng có công dụng bồi dưỡng sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau sinh, người mới nhỏ dậy.
- Chữa bạch huyết cầu cấp và mãn tính: Đương quy 15-30 g, xuyên khuông 15-30 g, xích thược 15-20 g, hồng hoa 8-10 g, tam thất 6 g, sắc uống./.
Tham khảo thêm: Địa chỉ khám sản phụ khoa

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét